Cam sành là cam qúy của Việt Nam được trồng nhiều nhất ở Bắc Giang, Hà Giang, Tuyên Quang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Bến Tre, Tiền Giang. ở miền Bắc có mùa đông lạnh nên Cam sành màu sắc và hương vị không kém gì các giống cam quýt á nhiệt đới. Vì vậy, có thể trồng nhiều để xuất khẩu. ở miền Nam, tuy màu sắc và hương thơm không được bằng miền Bắc nhưng cam lại nhiều nước, vị ngọt, năng xuất cao, chín gần như quanh năm, để chế biến nước cam rất tốt. Ngoài ra còn có rất nhiều giống quýt khác nhưng diện tích trồng ít hơn: ở Hà Nam có quýt Lý Nhân với múi, hương vị, màu sắc rất tốt; ở Thanh Hoá có cam Giàng đỏ đẹp, ngọt không chua; ở Hà Tây có cam Canh quả to, màu đỏ vàng, vỏ mỏng, ruột vàng ăn ngọt nhạt, không có vị chua (cả hai giống cam này đều được phân loại là quýt), quýt Lạng Sơn vỏ mỏng, ăn chua ngọt, quýt hôi, vỏ mỏng ăn rất chua, quýt Tiều ở miền Nam chín vàng ửng rất đẹp trong dịp Tết, giống này được trồng phổ biến ở Đông Nam Á.
Trên thế giới cũng có nhiều loại Quýt, sau đây là một số loại chính:
Quýt Satsuma: Chịu rét tốt, trồng nhiều ở Nam Nhật Bản, Trung Quốc và một số nước khác. Giống quýt này không hạt, ngon, chín sớm và có rất nhiều loại phụ.
Quýt Ponkan: Gồm nhiều loại quýt trồng ở các nước Đông Nam Á nhưng mỗi nước có một tên gọi khác nhau.
Quýt Dancy: Vỏ đỏ tươi, rất đẹp, là loại quýt Tiều vì nguồn gốc ở tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc). Quýt Tiều không được ngọt lắm nhưng vỏ đỏ như son, rất được ưa chuộng để cúng giỗ Tết, trang trí.
Quýt Tangrin: có vỏ vàng cam, trồng nhiều ở Maroc Bắc Phi.
Quýt Kinh: quả to, vỏ dầy, hơi khó bóc. Thịt qủa khi chín màu đỏ vàng rất đẹp, nước quả làm nước giải khát có màu rất đẹp. Quýt Kinh được trồng nhiều ở Việt Nam, Campuchia, Thái Lan. ở nước ta, Quýt Kinh là giống Cam sành phổ biến rộng rãi cả nước. Các nhà khoa học thế giới cho rằng Quýt Kinh (Cam sành) là cây lai giữa cam và quýt nên quả có cả đặc tính của cam, quýt. Họ xếp là quýt nhưng ở ta lại gọi là cam.
Quýt rất ngon, ngọt, thơm, được nhiều người ưa thích, là quả tốt để ăn tráng miệng, để làm nước giải khát, làm mứt.
Quýt vừa ngon, đẹp vừa có nhiều dinh dưỡng. Trong một qủa quýt, nước quả chiếm 28-56%, vỏ chiếm 22-22,5%, hạt 1,3-2,5%. Trong nước quýt có 11,6% đường, 2% axit citric, axit hữu cơ, các vitamin A, B, C, chất khoáng.
Trong vỏ Quýt tươi có 3,8% tinh dầu, 61,25% nước, các vitamin A, B… Vỏ Quýt phơi khô là vị thuốc Trần bì nổi tiếng. Trong lá Quýt có khoảng 0,5% tinh dầu. ở Châu Á, Nhật và Trung Quốc (những nước trồng nhiều Quýt), nhân dân các nước này rất ưa dùng Quýt. Người Trung Quốc có tục ăn Quýt trong đêm tân hôn với ý nghĩa sớm sinh qúy tử.
Đông y đánh giá cao Quýt. Quýt vị ngọt chua, tính ấm, giải khát, mát tim , khoan khoái trong lòng, khai uất, trừ đàm, tan khí kết, giải rượu. Người bị cao huyết áp, bệnh mạch vành, đau dạ dày, suy dinh dưỡng, cơ thể suy nhược sau khi ốm, ăn quýt rất tốt. Vỏ quýt khô gọi là Trần bì. Trần bì tính ấm, có tác dụng làm khoẻ dạ dầy, long đờm, trị ho, trị phong, lợi tiểu, chữa ợ hơi, đau thượng vị. Y học đã chứng minh trong vỏ quýt có tinh dầu thơm glucoxit orange, andehit lemon, axit béo… có tác dụng hưng phấn tim, ức chế vận động của dạ dày, phòng xuất huyết. Vỏ quýt còn dùng để điều trị cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, có tác dụng tốt với các chứng bệnh chướng bụng, rối loạn tiêu hoá, kém ăn, buồn nôn, ho nhiều đờm, khó chịu trong lồng ngực. Trong đông y thường lưu truyền câu: Nam bất ngoại Trần bì; Nữ bất ly Hương phụ. Nghĩa là chữa bệnh cho nam giới không thể thiếu Trần bì, chữa bệnh cho nữ giới không thể thiếu Hương phụ.
Hạt Quýt vị đắng tính bình, vào 2 kinh can và thận, có tác dụng kiện tì, lý khí, táo thấp hoá đớm. Lá Quýt vị đắng, tính bình, vào đường can kinh, có tác dụng trợ gan, hành khí, tiêu thủng, tan u cục, chữa đau mạng sườn, sa nang, đau vú, u cục ở vú.
(P.2: Một số bài thuốc từ cây Quýt)
Trịnh Thường Mại_NCTQ số 13
|